Về cơ chế chính sách, bà Vân cho rằng nhà nước cần
ban hành tiêu chuẩn công nghệ cho sản phẩm cơ khí trọng điểm làm căn cứ để kiểm
tra chất lượng sản phẩm cung cấp trong nước và nhập khẩu. thực hiện bảo hộ với
điều kiện và với thời hạn đối với đối sở hữu sản phẩm cơ khí trong nước và ban
hành các chính sách nhằm khuyến khích, tăng khả năng tiêu thụ của những sản phẩm
cơ khí trong nước.
tiếp diễn đẩy mạnh việc tạo vốn cho DN cơ khí duyệt
chính sách nguồn hỗ trợ giảm giá như nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ về mức
lãi suất nguồn đầu tư 3% thời hạn 12 năm cho Công trình cung ứng những sản phẩm
cơ khí trọng điểm; Quyết định 65/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khuyến mại
vốn vay đầu cơ máy móc, trang bị giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông, thuỷ
sản...
Đối mang sản phẩm cơ khí trọng tâm, nhà nước coi xét
hỗ trợ vốn cho các dịch vụ kĩ thuật, như thuê chuyên gia, mua ngoài mặt, tìm
khoa học, chuyển giao kỹ thuật vượt quá khả năng của DN. các DN sản xuất cơ khí
được trích tối đa đến 2% doanh số bán ra cho nghiên cứu và lớn mạnh.
Về chính sách đào tạo nhân lực, nhà nước cần dành đầu
tiên đầu cơ nâng cấp những hạ tầng huấn luyện lĩnh vực cơ khí và hỗ trợ kinh
phí cử cán bộ người lao động chuyên nghiệp đi đào tạo và tập sự tại nước ngoài
theo các chương trình Công trình được phê duyệt hoặc đẩy mạnh hiệp tác sở hữu
nước ngoài.
không những thế, tạo cơ chế chính sách, hạ tầng cơ sở
lôi kéo nguồn vốn nước ngoài (FDI) từ những thị phần sở hữu lĩnh vực cơ khí chế
tạo mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU… qua chậm triển khai, DN Việt Nam có cơ hội
học tập công nghệ sản xuất và tham dự chuỗi sản xuất toàn cầu.
diễn tả kinh nghiệm ứng
dụng tự động hóa của TP Hải Phòng, KS Nguyễn Sơn Thủy – Trưởng phòng điều hành
Công nghiệp (Sở KHCN TP Hải Phòng), để tăng năng lực cung ứng, bảo đảm chất lượng
hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị phần, rộng rãi 









